SÓNG SIÊU ÂM GÂY BIẾN DẠNG TRƯỜNG DNA

Khi tiết lộ các nguyên tắc và cơ chế bí ẩn đằng sau các công nghệ của người Ai Cập cổ đại, tác giả Valery Uvarov mong muốn cung cấp cho mọi người những kiến thức cần thiết để có sự hiểu biết và đánh giá độc lập của mình về các thiết bị đang được bán trên thị trường, từ đó nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống phù hợp với những nguyên tắc cơ sở cấu thành vũ trụ. Hy vọng kiến thức này sẽ giúp người đọc tham khảo để đưa ra lựa chọn chính xác và tránh các biến chứng khi tiếp xúc với các công nghệ y tế như siêu âm, điện kích cơ (Thể hình, Electrosage-8, Gezane, Nybronic, Abtek, Body Shaper, Abgymnic, Power Shapers)

Khi cung cấp những sản phẩm như vậy cho khách, nhân viên bán hàng thường đưa ra một vài tuyên bố mạnh mẽ:

“… Tuyệt vời cho mục tiêu phát triển và tăng cường các nhóm cơ riêng lẻ: eo, bụng, bắp tay, cơ tam đầu, đùi và chân, để duy trì trương lực cơ khi ăn kiêng;

– Cũng được sử dụng để làm giảm căng cơ và để massage;

– Với các chương trình tích hợp chống lại tình trạng tích mỡ dưới da để tập luyện chuyên nghiệp;

– Nhiều cấp độ xung điện;

….Tăng cường cơ bắp, đốt cháy chất béo và thậm chí phá vỡ cả tế bào. Tất cả những gì được yêu cầu là đeo đai trong mười phút mỗi ngày và tương đương với hàng trăm lần đứng lên ngồi xuống.

Bây giờ hãy nhìn vào câu chuyện thực tế và bắt đầu với vấn để chính – nguyên tắc hoạt động của chúng:

– Thiết bị tạo ra các xung điện yếu đi qua đai đàn hồi. Những xung động “an toàn” này kích hoạt các trung tâm thần kinh nằm bên dưới da, và kết quả là các cơ co lại và sau đó thư giãn.

Để hình dung ra bức tranh thực sự của bất kỳ máy điện kích cơ nào, chúng ta cần nhớ rằng tất cả các tiến trình quan trọng trong cơ thể diễn ra ở cấp độ tương tác giữa các trường điện từ yếu. Tâm thức, suy nghĩ và các tiến trình được điều tiết qua các dây thần kinh tạo ra điện. Nói cách khác, tất cả các chức năng quan trọng trong cơ thể một sinh vật đều gửi đi tín hiệu trường điện từ yếu.

Các xung điện do thiết bị kích cơ tạo ra không liên quan gì đến cơ thể con người bởi nó chẳng có chút kết nối nào tới hoạt động của hệ thống nội tiết hay nhịp sinh học của cơ thể cũng như các cơ quan nội tạng hay hệ thống của nó.

Cơ thể sinh học có một trung tâm, đó là hệ thống tuyến yên vùng dưới đồi, nó theo dõi tất cả các tiến trình diễn ra bên trong và điều tiết các sai lệch bằng tín hiệu điện và năng lượng yếu với một tần số đặc biệt. Tín hiệu được tạo bởi các thiết bị kích cơ hoặc thiết bị vật lý trị liệu như SCENAR, DENAS, SHIBUSHI và EDMA sẽ rất mạnh so với xung nhịp sinh học tự nhiên và làm gián đoạn nhịp sinh học của người dùng bởi chúng không đồng bộ và chẳng có kết nối gì với họ.

Càng sử dụng thiết bị kiểu đó nhiều, sự gián đoạn năng lượng sinh học càng gia tăng và ngày càng tồi tệ, dẫn đến rối loạn nghiêm trọng. Ảnh hưởng đầu tiên và quan trọng nhất là đến nhịp tim và nhịp của các bộ phận được kết nối tới vùng mà thiết bị hoạt động, mà thực tế đã xác nhận thông qua sự gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhồi máu cơ tim và rối loạn ung thư ở những người sử dụng máy điện kích cơ.

Hãy cùng phân tích các phản ứng của cơ thể.

Khi hệ thống miễn dịch nhận ra các xung của thiết bị điện kích cơ là xa lạ, ngay lập tức nó phản ứng tự vệ. Nó dừng đưa hormone vào trong máu và tăng chức năng phòng thủ tới cấp độ tấn công nội bộ. Và đó cái mà các chuyên gia tuyên bố rằng thiết bị cho kết quả tích cực!

Quả đúng là sự tăng đột biến trong chức năng phòng thủ ở một số người có thể mang lại điều chỉnh các bệnh nhẹ và rối loạn bên ngoài cơ thể. Nhưng phải hiểu rằng hiệu ứng đó không nhắm trực tiếp vào bệnh, nó đơn giản là gây ra một phản ứng phòng thủ chung từ toàn bộ cơ thể. Chúng ta không nên quên rằng bất kỳ phương pháp nào dẫn đến tăng chức năng phòng thủ của hệ miễn dịch đều làm suy nhược nó. Hệ miễn dịch phải chiến đấu không chỉ chống lại căn bệnh mà còn chống lại các tác động phá hủy của thiết bị kích cơ. Do đó, cơ thể sẽ liên tục phải chiến đấu chừng nào hệ miễn dịch còn khả năng chống lại các tác động có hại. Nhưng nếu hệ miễn dịch của một người bị suy nhược do bệnh tật hoặc làm việc quá sức kéo dài, rồi lại bị tác động thường xuyên bởi yếu tố gây hại của thiết bị kích cơ hoặc thiết bị vật lý trị liệu sẽ dần dần bị rối loạn nghiêm trọng. Cũng phải thừa nhận rằng các yếu tố và cơ chế này phần lớn vẫn chưa được y học hiện đại nhận ra. Một minh họa dễ thấy về điều này là việc sử dụng rộng rãi biện pháp siêu âm để xác định giới tính sớm khá phổ biến và dẫn đến các khuyết tật có thể xảy ra ở giai đoạn đầu trong sự phát triển của thai nhi, điều này có ảnh hưởng xấu đến đứa trẻ. Đây là một trong những lý do chính tại sao ngày càng có nhiều trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh.

Trong các nghiên cứu được tiến hành cùng với nhà vật lý học A.A. Berezin, Gariayev tự đặt cho mình nhiệm vụ trọng điểm là thâm nhập vào “thánh địa của thánh địa” trong chất liệu sự sống, đó là xoắn gen chỉ đạo sự phát triển của sinh vật. Thiên nhiên bảo vệ bộ gen khỏi mọi sự xâm nhập để bảo tồn các chương trình di truyền cho các thế hệ tương lai. Một thực tế chắc chắn là các phân tử DNA chiết xuất từ tế bào tạo ra một loạt các âm thanh. Đây là một bản giao hưởng thực sự của sự sống, nó chứa giai điệu cộng hưởng của toàn thể mô, cơ quan nội tạng và các hệ trong cơ thể có thể phát triển theo sự chỉ huy của DNA. Nhưng cho đến nay các nhà khoa học chỉ có thể xác định phạm vi dao động của các âm thanh này, còn rất nhiều trong số chúng chỉ thiết bị siêu nhạy mới có thể phân biệt được.

Để phát ra “âm thanh của sự sống” trong sự hỗn loạn, các nhà khoa học phải nhờ đến sự trợ giúp của các hạt ánh sáng – photon. Họ hướng chùm tia laze helium-neon lên các phân tử DNA dao động. Khi nó phản xạ lại, ánh sáng bị tán xạ và phổ của nó được ghi lại bởi một thiết bị đo rất nhạy. Hệ thống đo lường này được gọi là kỹ thuật quang phổ tương quan photon.

Trong các nghiên cứu của họ, Gariayev và Berezin đã cho dung dịch phân tử DNA vào cốc và tiếp xúc với siêu âm. Họ từ chối xác định tần số của âm thanh dao động, chỉ nói rằng một số âm bội có thể được phát hiện bằng tai như một tiếng huýt sáo cao. Nhưng các nhà khoa học này không che giấu kết quả thí nghiệm của mình, ngược lại họ cho rằng nhiệm vụ là phải thông báo cho càng nhiều người biết về nó càng tốt.

Trước khi tiếp xúc với máy phát siêu âm, các phân tử DNA đã tạo ra âm thanh trong biên độ rộng từ vài Hertz đến hàng trăm, nhưng sau đó các phân tử vang lên với cường độ đặc biệt ở một tần số – 10 Hz – và hiệu ứng này kéo dài trong vài tuần sau thí nghiệm. Và biên độ của các rung động không giảm. Nói theo nghĩa bóng, một nốt nhạc xuyên suốt bắt đầu thống trị trong bản giao hưởng của cuộc sống.

“Công việc của DNA”, Gariayev giải thích, “có thể so sánh với một máy tính nhanh đưa ra một lượng lớn các quyết định. Nhưng hãy hình dung rằng ai đó đã đập chiếc máy tính bằng búa tạ, và kết quả là nó đưa ra một và chỉ một câu trả lời cho mọi câu hỏi. Một điều gì đó đã diễn ra trong bộ gen sóng khi chúng ta làm nó choáng váng bởi sóng siêu âm. Các tham số sóng của nó bị thay đổi và một tần số nào đó được khuếch đại mạnh.”

Nhưng các nhà khoa học thậm chí còn ngạc nhiên hơn bởi một thực tế khác: sự biến dạng quang phổ của rung động âm thanh không xảy ra ngay lập tức. Sau tiếp xúc, họ đã kiểm tra âm thanh của mẫu DNA nhưng không tìm thấy sự thay đổi nào trong giai điệu của nó. Thất vọng vì thất bại này, họ lấy dung dịch mẫu ban đầu đổ vào cái mới và cấp đông nó trong tủ lạnh. Khi rã đông vào ngày hôm sau và lặp lại phép đo, họ thực sự kinh ngạc: mẫu DNA chưa bị thí nghiệm đã hành xử như thể nó đã tiếp xúc với sóng siêu âm.

Sau nhiều lần kiểm tra, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một kết luận đáng kinh ngạc: sóng siêu âm làm “tổn thương” các phân tử DNA và chúng ghi nhớ điều đó. Các phân tử trải qua một cú sốc mạnh mà sau đó phải mất một thời gian dài để hồi phục, và cuối cùng chúng tạo ra một dạng sóng ám ảnh (phantom) của nỗi đau đớn và sợ hãi, còn tồn tại lại đó ở khía cạnh trải nghiệm khủng khiếp. Do ảnh hưởng của sự ám ảnh đó, các phân tử DNA khác cũng trải nghiệm được cú sốc tương tự và cũng “hét lên trong nỗi kinh hoàng”.

Thử nghiệm sâu hơn cho thấy rằng trong quá trình tiếp xúc với sóng siêu âm, chuỗi xoắn kép của DNA bị gỡ ra và thậm chí tách ra, như khi các phân tử bị làm nóng mạnh. Trong chấn thương cơ học như vậy, sóng điện từ hình thành và tạo ra một ám ảnh, là dạng trận điện có khả năng phá hủy DNA theo cách tương tự với nhiệt độ cao và sóng siêu âm.

Theo ý kiến của Gariayev, ảnh hưởng của ám ảnh này đôi khi cũng xảy ra tại vị trí của khối u ung thư: dù nó đã bị cắt bỏ nhưng ma trận sóng này vẫn còn ở đó và nó sẽ tạo ra một cụm tế bào ác tính mới.

Gariayev nói: “Thử nghiệm này cho thấy, sóng siêu âm gây ra không chỉ gây tổn thương cơ học mà còn làm biến dạng trường DNA, nghĩa là sẽ gây ra sự sai lệch trong chương trình di truyền: các trường biến dạng sẽ hình thành các mô hỏng, như vậy không thể tạo ra những cơ thể khỏe mạnh. Quét siêu âm hiện đang sử dụng rất phổ biến trên khắp thế giới. Phương pháp này được coi là hoàn toàn vô hại và vì vậy nó được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán ở trẻ em. Họ thậm chí còn quét phụ nữ mang thai để kiểm tra giới tính của đứa trẻ. Thật kinh ngạc khi thiếu suy nghĩ và coi mình là “chúa tể của thiên nhiên” như vậy. Họ biết rằng một số động vật sử dụng sóng siêu âm làm vũ khí: cá heo làm choáng những con cá khác và cá nhà táng dùng với cá mực.

“Các nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng siêu âm có thể gây hại đặc biệt cho các hệ thống sự sống. Chúng tôi đã thử tất cả các cách để loại bỏ hiệu ứng ám ảnh tác động lên DNA bởi máy phát sóng siêu âm nói trên. Chúng tôi trộn loãng các dung dịch, liên tục cấp đông rồi rã đông chúng, thay thế DNA cũ bằng cái mới, nhưng cấu trúc sóng dị thường vẫn xuất hiện ở vị trí tiếp xúc. Ma trận sóng này vẫn tồn tại và tạo ra sự gián đoạn mới trong các chương trình di truyền. Thật quá kinh khủng khi nghĩ rằng một hiệu ứng như thế xảy ra trong các tế bào của con người sau khi chẩn đoán siêu âm. Không có gì đáng ngạc nhiên khi rất nhiều em bé bị bệnh và dị tật được sinh ra trong các phòng khám hiện đại: siêu âm có thể đã làm biến dạng bộ gen sóng của chúng. Và khi người trưởng thành siêu âm quét các bộ phận bị bệnh, việc điều trị chúng trở nên khó khăn…”

(Từ một ấn phẩm trên báo Tainaya Doktrina [Giáo lý bí truyền]. № 11, 2003)

Quay lại với phương pháp không tự nhiên như điện kích cơ và “SCENARLING” trên cơ thể con người. Bất kỳ biện minh nào cho rằng các xung do thiết bị tạo ra là đồng bộ với cơ thể về hình dạng, tần số và nó phù hợp với tần số của các tế bào khỏe mạnh là hoàn toàn vô nghĩa bởi có thể xem thông tin này từ các thiết bị “đọc” nó từ cơ thể. Những người đưa ra tuyên bố như vậy là không trung thực hoặc đơn giản là không nắm bắt được sự phức tạp của các tiến trình diễn ra trong cơ thể, mức độ cực kỳ cao của “khả năng thu nhận dữ liệu” cũng như độ phức tạp của tín hiệu điện sinh ra bởi hệ thống nội tiết.

Cơ thể người bao gồm hàng ngàn tỷ tế bào! Hãy cố gắng hình dung với tất cả khả năng có thể về khối lượng dữ liệu được xử lý bởi các hệ thống thần kinh và nội tiết, xem xét đa chiều về cấu trúc năng lượng của cơ thể (học thuyết KABALAON). Để phân tích tất cả các tiến trình diễn ra trong cơ thể, để xác định, đọc và định hướng một tín hiệu hữu ích theo đúng kênh, bạn cần một thiết bị dựa trên ý thức hệ khác với những gì chúng ta có bây giờ. Nếu chúng ta cố gắng, hoàn toàn theo giả thuyết, để hình dung một thiết bị được chế tạo trên cơ sở công nghệ ngày nay có khả năng phân tích tất cả các quy trình trong thời gian thực, xác định và khuếch đại các rung động (tín hiệu) cần thiết và hướng chúng theo một kênh đúng để đến đúng bộ phận của cơ thể, thì nó sẽ làm một cỗ máy khổng lồ vượt ra khỏi mọi tỉ lệ cơ thể. Vì vậy, chúng tôi cần đưa ra cảnh báo nghiêm trọng: bất kỳ công nghệ nào có ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp điệu năng lượng sinh học của con người (như quét siêu âm, điện kích cơ, SCENAR, DENAS, SHIBUSHI, EDMA và tương tự) hoặc tác động gián tiếp thông qua thực phẩm mà nhịp điệu năng lượng sinh học đã bị thay đổi (phá hủy) bởi lò vi sóng, gây ra tác hại rất lớn cho cơ thể con người.